Chào Khách quý
|
NỘI DUNG CỦA CHỦ ĐỀ:
└(≣) QUÊ HƯƠNG - KIÊN GIANG cách đây 11 năm, 4 tháng #9548
|
Sinh ở đây, lớn ở đây
Cháu con cũng đã chôn nhau chốn này Mai sau lưu lạc chân mây Nhớ về Tân Hiệp sum vầy tổ tiên HOA NGỌC LAN 10-11-13 |
|
└(≣) QUÊ HƯƠNG - KIÊN GIANG cách đây 11 năm, 4 tháng #9559
|
MỘT CHÚT KỶ NIỆM
Vào năm hồi ấy mới về kinh Đông Bình thằng em nhỏ nhất nó mới lên có 3 tuổi . Tôi còn phải bế cắp nách nó,tuổi này nó chưa được đi tới trường.Chiều chiều tôi hay dẫn qua nhà ônh Đàn ,ba của Đào An Viêm chơi ,Viêm cũng có em nhỏ ,thằng em trai tôi nó rất lanh lẹ và hoạt bát , vì nó nhỏ nên cả nhà chúng tôi đi đâu cũng phải bế hay cõng vì chung quanh và trước nhà toàn là đìa và ao sâu. Thắm thoát cũng tới ngày nó được đến trường làng để đi học. Nhưng 5 tuổi nó được vào học lớp 1 và đị học sớm một năm.Đó là nguyên nhân nó đậu Đại Học vào năm 17 tuổi.Trường tiểu học thì ở gần chùa ,ngay cầu đúc.Những ngày mưa gío thì phải có người dùng xuồng đưa nó đi học hay cõng nó tới trường.nếu không lầm thì nó học chung với em trai Út của Tú Gân. Ngày nào không có mưa thì nó biết tự đi bộ về nhà với bạn hàng xóm. Nó có cái tật ra khỏi lớp là co giò < phi ngựa > về nhà,mồ hôi nhễ nhại ,mặt đỏ bừng bừng vì nóng . Tôi đi học về tới nhà nhìn thấy nó như vậy hay la nó : _ Hoàn ! Đi học về sao cứ chạy y như phi ngựa vậy ? _ Em chạy thi đua với mấy đứa kia ! Nhưng em chạy hơn tụi nó chị Thảo ơi ! _ Chị không thích em chạy như vậy ! Đầu tóc mồ hôi ra bê bết kìa . Nó nghe xong nhưng chứng nào tật nấy ,cho đến năm 1979 ,năm tôi học lớp 12 thì thằng em Út mót của anh em chúng tôi ra đời .Vì có em ,Mẹ tôi không có thời gian chăm sóc nó được nhiều,tôi là chị lớn nhất ,nhưng còn đi học mỗi ngày không giúp gia đình được mấy,ngay cả chuyện nấu cơm vì đã có bà Ngoại giúp.Thế là thằng cu Hoàn được đưa về Sài Gòn sống với Ba và ông anh Hai chăm sóc nó và đi học tiếp . Khi nó rời kinh Đông Bình còn nhỏ như vậy.tôi thật sự nhớ nó lắm ,vì tắm cho nó mỗi chiều,lúc mới về dưới kinh ẩm bế vì nó còn nhỏ,bao nhiêu tình thương của người chị tôi dành cho nó hết . Giờ bị đưa về Sài gòn sống xa ngôi nhà tranh này,phải nói là có những tối tôi ngồi học bài nhớ em mà buồn... Về Sài Gòn ở với anh hai thì phải vào khuôn khổ gắt hơn ở với Mẹ .Cũng cứ còn cái tật đi học ra khỏi nhà cứ < ngựa phi kiểu đó > . Mấy đứa em của tôi ở với anh Hai ,từ nhỏ tới lớn ,ăn ,học,ngủ,nghỉ đều phải theo thời khóa biểu anh đưa ra. Nhưng con trai làm anh cả sao bằng Mẹ được.một ngày anh hai tôi ngồi kèm nó học thì thấy con chí rơi cái cộp xuống bàn,trời ạ anh vạch tóc nó ra thì đầy một đầu trứng và chí. _ Thằng Hoàn ! Mày đi học ngồi gần mấy đứa con gái chúi đầu vào tụi nó sao lây chí vậy ? _ Không ! Em đâu có ngồi gần mấy đứa con gái đâu ? _ Vậy ngồi gần đứa nào ? - Em ngồi gần thằng đầu trọc ! Ông anh tôi với mấy đứa nghe nó nói mà ông bụng cười bò lăn bò càng và câu chuyện đó lâu lâu được nhắc lại .Thằng cu Hoàn ngồi gần thằng bạn đầu trọc mà lây chí ! Còn tôi từ đó trở đi chỉ được gặp em vào dịp hè về Sài gòn. Thời gian trôi thắm thoát ,nó bước vào Đại Học thì tôi rời nước đi đoàn tụ ! Nó học về ngành kỹ sư xây dựng ! Và job đầu tiên của nó là bước trực tiếp vào sân bay Tân Sơn Nhất làm qua kỳ thi tuyển với 100 đơn,nhưng chỉ nhận có 2 .một kiến trúc và một xây dựng . Cách đây khoảng 6 năm về trước sân bay quốc tế TSN được tách rời .Nó là người đứng ra làm việc trực tiếp với êkip người Nhật để xây dựng sân bay này .Có lần tôi về thăm gia đình .và trở lại Mỹ ,sau khi cân hành lý xong nó nói : _ Chị Thảo ơi ! Em dẫn chị vào chỗ ngồi đợi chờ chuyến bay của VIP coi cho biết nè . Nói về mấy chỗ này ngay cả phi trường ở VN tôi chưa được có cơ hội vào trong ngồi được 1 lần. Khi tôi tìm kiếm những bài sưu tầm về Quê Hương - Kiên Giang và nhất là bài Khánh Thành sân bay Phú Quốc thì tôi nhớ đến thằng em của tôi nhiều lắm . VŨ HỒNG -NGƯỜI BẠN HỌC CHUNG 3 NĂM CẤP III - TÂN HIỆP - KIÊN GIANG Vũ Hồng có dáng gầy , cao và ngăm đen.Thật sự lúc đó dưới con mắt của mình nhìn thấy anh bạn này giống người Miên hơn là người miền Nam .Phải nói là hiền ,học chung từng đó năm nhưng chắc là chưa bao giờ nói chuyện với nhau được 1 câu ,vì tôi cũng thuộc loại ít nói . Ngày nó bay ra Phú Quốc để mở công trình xây sân bay Quốc Tế này là nó làm việc trực tiếp với Vũ Hồng vì VH lúc này là một chủ tịch Huyện Phú Quốc.Đó là cơ duyên để Vũ Hồng biết Nguyễn Công Hoàn là đứa em ruột của tôi . Cho đến mấy năm sau ,sân bay chưa khai trương nó có nói chuyện về sân bay này.Nó cứ nói chị Thảo có muốn ra Phú Quốc chơi không ? Em book vé cho chị đi chơi cho biết.Nhưng tôi nói với nó là đợi sân bay khánh thàng xong rồi chị sẽ đi. Sân bay chưa khánh thành xong thì Vũ Hồng chuyển vào Rạch Gía làm.Rồi tôi nghe MV nói anh Vũ hồng học với chị giờ làm ở Rạch Gía nè chị.Tôi về nhà hỏi thăm thằng em vậy có biết Vũ Hồng không ? _ Anh Vũ Hồng đó hả ? Có làm việc chung với em . Sau đó hai người nói chuyện với nhau và VH hiểu ra thằng em từng làm việc ở Phú Quốc là em trai của TT .Chuyến về năm ngoái bạn bè chúng tôi có họp mặt ở RG .Dĩ nhiên lúc này VH biết tôi nhiều hơn hồi học chung lớp.Trong bữa tiệc anh bạn tôi gọi phone báo cho thằng em là chị Thảo với các bạn học cũ đang họp mặt ở RG . Không ngờ anh bạn học chung lớp ngày xưa hiền như vậy mà bi giờ...hét ra lửa !!! Một chút kỷ niệm ! TT.10.11.13 |
|
└(≣) QUÊ HƯƠNG - KIÊN GIANG cách đây 11 năm, 4 tháng #9744
|
THẬP CẢNH HÀ TIÊN - KIÊN GIANG
1/ TIÊU TỰ THẦN CHUNG Rừng thiền sít sát án ngoài tào Chuông giống chùa Tiêu tiếng tiếng cao. Chày thỏ bạt vang muôn khóm sóng Oai kình tan tác mấy cung sao. Não phiền kẽ nấu sôi như vạc. Trí tuệ người mài sắc tựa đao. Mờ mịt gẫm dường say mới tỉnh Phù sinh trong một giấc chiêm bao. CHÙA TAM BẢO Tương truyền, sau khi ổn định cơ ngơi, Mạc Cửu cho người về Trung Quốc đón mẹ sang Hà Tiên, lúc này bà đã hơn 80 tuổi và là người rất sùng mộ đạo Phật, có ý muốn đi tu. Năm 1730, ông đã cho xây gần dinh cơ của mình một ngôi chùa, gọi là Tiêu Tự, để mẹ sớm mỏ chiều kinh. Chùa xây trong khuôn viên chùa Tam Bảo hiện nay. Trong một ngày lễ Phật, bà đã mất ngay trước Phật Đài. Mạc Cửu cho đúc một tượng Phật và một chuông đồng để thờ. Nghe tiếng chuông mà tưởng niệm đấng từ thân. Ngôi chùa xưa đã bị quân Xiêm tàn phá khi xâm chiếm Hà Tiên năm 1771. Đến năm 1799, con cháu họ Mạc mới trùng tu lại. Ngôi chùa Tam Bảo hiện nay đã qua nhiều lần trùng tu lớn và nhỏ (lần trùng tu lớn nhất là năm 1940). Phía sau chùa hiện nay còn mộ của Thái Thái Bà Bà (mẹ ông Mạc Cửu). Trong chùa chỉ còn tượng Phật bằng đồng, chuông đồng đã bị mất khi quân Xiêm xâm chiếm. Xung quanh chùa hiện nay còn lại bức tường cổ, họ Mạc cho xây dựng để ngăn giặc, vật liệu làm bằng vôi và ô dước nhưng vẫn bền vững gần 300 năm nay. Mạc Thiên Tích đã vịnh cảnh "Tiêu Tự Thần Chung" như để nói lên tâm tư của ông ở nơi dinh thự khi nghe tiếng chuông chùa vào buổi sớm. Tiếng chuông chùa buổi sớm ngân vang tạo cho một vùng không gian Hà Tiên thêm êm đềm, thanh tịnh. Chùa Tam Bảo là một di tích lịch sử gắn liền với dòng họ Mạc, nằm ngay trung tâm thị xã Hà Tiên, có một khuôn viên khá rộng, không khí trong lành, khoáng đãng, yên tĩnh, là nơi mà hầu hết du khách đến Hà Tiên đều muốn ghé qua thăm viếng. 2/ KIM DỰ LAN ĐÀO Kim là vàng, dự là hòn đảo nhỏ, lan là ngăn chặn, đào là sóng to. Kim Dự Lan Đào là hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió. Ý nói, trước hải khẩu trấn Hà Tiên có hòn đảo nhỏ ngăn chặn sóng gió, gìn giữ cho nội địa được yên ổn. Kim dự này là núi chốt then, Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên. Ngăn ngừa nước dữ không vùng vẫy, Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng. Thế cả vững vàng trên Bắc hải; Công cao đồ sộ giữa nam thiên. Nước yên chẳng chút lông thu động, Rộng bủa nhơn xa tiếp bách xuyên. NÚI PHÁO ĐÀI Kim Dự là một quả đồi nhỏ phía Tây Nam thị xã Hà Tiên. Thường gọi là núi Pháo Đài. Vì trên đó, từ hồi Triều Nguyễn đến hồi bị Pháp thuộc vẫn là cứ điểm quân sự để trấn giữ cửa biển, bảo vệ trấn Hà Tiên chống giặc ngoại xâm. Cách đây hơn một thế kỷ, Pháo Đài vẫn còn tách rời đất liền. Nay Pháo Đài dính với đất liền là do công sức xây đắp của các tù nhân thời thực dân Pháp. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho Pháo Đài là Đại Kim Dự, còn một cảnh Tiểu Kim Dự nữa. Có lẽ là chỗ đối cảnh với Đại Kim Dự về hướng Nam, mà nay đã dính liền vào đầu sơn phận núi Tô Châu, chỗ doi đất hiện giờ có miễu thờ Thủy Thần và miễu thờ Cá Ông Nam Hải. Ngày nay, chiếc cầu Tô Châu đã nối liền hai bờ Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự. Và dưới chân Pháo Đài là ngọn Hải Đăng, làm cho đôi bờ cửa biển Hà Tiên càng thêm duyên dáng, đáng yêu. Nơi đây rất lý tưởng cho những du khách thích thưởng ngoạn ngắm cảnh trời mây non nước và tận hưởng gió mát. Từ đây, ta có thể ngắm toàn cảnh thị xã Hà Tiên, thưởng thức “ Đông Hồ Aán Nguyệt “ trong những đêm trăng sáng và ngắm cảnh hoàng hôn trên biển. 3/ LỘC TRĨ THÔN CƯ Lộc là nai, trĩ là mõm núi, mũi núi. Lộc Trĩ là Mũi Nai, thôn cư là chỗ thôn trang dân cư. Lộc Trĩ Thôn Cư tạm dịch là xóm núi Mũi Nai. Xóm dân cư này đã đi vào văn học qua bài thơ Lộc Trĩ Thôn Cư của Tao Đàn Chiêu Anh Các. Lâm lộc ai rằng thú chẳng thanh. Nửa kề nước biếc nửa non xanh Duỗi co chẳng túng kiền khôn hẹp Cúi ngửa vì vâng đức giáo lành Lưu loát hưởng dư ơn nước thạnh Ê hề sẵn có của trời dành Đâu no thì đó là an lạc Lựa phải chen cân chốn thị thành. BÃI BIỂN MŨI NAI Bãi tắm Mũi Nai cách trung tâm Thị Xã Hà Tiên khoảng 6 km về hướng Tây, gồm hai điểm: bãi trước và bãi sau. Bãi tắm Mũi Nai không sâu thẳm mà thoai thoải dần và sóng ở đây ít ồn ào, hung hãn, rất yên tĩnh và hiền lành. Từ bờ ra chừng trăm mét vẫn an toàn, chúng ta có thể an tâm đùa giỡn với sóng nước. Mũi Nai nằm trong vùng biển vịnh Thái Lan. Xa xa có nhiều hòn đảo nhấp nhô, chếch về phía bên trái là quần đảo Hải Tặc, xa hơn nữa là đảo ngọc Phú Quốc nằm trãi dài mà chúng ta có thể nhìn rõ hơn trong những ngày trời quang mây tạnh. Đến Mũi Nai, tắm biển, hưởng nắng và gió biển sẽ giúp du khách thêm vui tươi, khỏe khoắn. Chúng ta có thể nằm võng hoặc ghế bố mà ngắm cảnh thiên nhiên, nhìn sóng nước từng đợt nhấp nhô, xô lượn vào bờ. Bạn sẽ thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng. Chúng ta sẽ thưởng thức các đặc sản biển như: ốc nhảy, hào đá, cua, ghẹ, mực,. .. Bãi biển Mũi Nai là nơi mà tất cả các du khách đến Hà Tiên đều muốn thăm qua. Có thể nói khu vực đồng bằng sông Cửu Long, bãi tắm Mũi Nai là nơi lý tưởng nhất cho những du khách yêu thích biển đến tham quan du lịch. 4/ NAM PHỐ TRỪNG BA Trong năm cặp thắng cảnh đối nhau thì "Nam Phố trừng Ba" là cảnh đối lại với "Đông Hồ Ấn Nguyệt". Nam Phố là bãi biển ở phía Nam. Trừng là nước lặng lẽ. Ba là sóng. Nam Phố Trừng Ba là bãi biển phía Nam sóng nước lặng lẽ. Dòng Nam phẳng lặng khách dầu chơi. Hai thức như thêu nước với trời Bãi khói dưới kia hương lại bủa Hồ gương trong đó gấm thêm rơi Sóng chôn vảy ngạc tình chi xiết Nhạn tả thơ trời giá mấy mươi Một lá yên ba dầu lỏng lẻo Đong trăng lường gió nước vơi vơi. BIỂN NAM PHỐ Nam Phố là một bãi biển cách thị xã Hà Tiên về hướng Nam khoảng 11km, thuộc ấp Bãi Ớt, xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương. Bãi biển ở đây gần giống như một cái vịnh nhỏ được che chở bởi các ngọn núi, nên biển ở đây thường yên lặng hơn các nơi khác, gần như quanh năm êm đềm lặng sóng. Những ghe thuyền qua lại gặp mùa động Nam, muốn tránh sóng gió đều vào đây ẩn núp cho qua cơn trời động. Cảnh vật nơi đây còn rất hoang sơ và gần với thiên nhiên. Bãi tắm ở đây cũng khá đẹp và lý tưởng. Dân cư ở đây rất hiền hòa, sống bằng nghề trồng tiêu và làm nghề biển. Đến đây, chúng ta sẽ được thưởng thức những món đặc sản địa phương như gỏi cá trích, gỏi cá nhòng, con cà xiểu,… với hương vị rất riêng của miền biển. 5/ THẠCH ĐỘNG THÔN VÂN Thạch động là một khối đá vôi khổng lồ, có độ cao khoảng 48m, nằm sát quốc lộ 80, cách trung tâm thị xã Hà Tiên về hướng Tây Bắc 3km. Từ xa trông Thạch Động như hình chiếc mũ lông của lính kỵ mã Anh quốc. Thạch Động đã đi vào thơ ca qua tác phẩm "Hà Tiên Thập Cảnh" của Mạc Thiên Tích, là một trong mười cảnh đẹp tiêu biểu của Hà Tiên với tên gọi Thạch Động Thôn Vân. Thạch Động là động đá. Thôn là nuốt. Vân là mây. Thạch Động Thôn Vân là động đá nuốt mây. Nhân cảnh mây phong khói tỏa, quanh quẩn ở chỗ cửa động, mà thi nhân nghĩ như là động khẩu hút khói nuốt mây. Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa, Chòm cây khóm đá dấu tiên gia Hang sâu thăm thẳm mây vun lại; Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua. Trống lổng bốn bề thâu thế giới; Chang bang một dãy chứa yên hà. Chân trời mới biết kho trời đấy Cân đái hèn chi rở ỷ la. THẠCH ĐỘNG THÔN VÂN Dân gian truyền rằng trong Thạch Động có đường thấu tới đỉnh nên ánh sáng mặt trời rọi xuống, đây là đường lên trời. Còn đường xuống địa phủ được dân gian gắn liền với huyền sử "Thạch Sanh giết Đại Bàng cứu công chúa Quỳnh Nga và Thái Tử con vua Thủy Tề". Đường xuống địa phủ là một hang sâu thăm thẳm không biết đâu là cùng. Tương truyền rằng, có lần Tổng trấn Mạc Thiên Tích sai người theo cửa hang đi xuống để xem sao, người đó đi mãi chỉ nghe tiếng sóng, sợ quá phải quay trở lên. Một tương truyền khác, có người thử xem hang này ra sao, họ khắc chữ đánh dấu vào những trái dừa khô rồi thả xuống hang. Ít lâu sau, những người đi biển vùng Hà Tiên, Phú Quốc đều lượm được những trái dừa đó. Do hang sâu nguy hiểm nên đã được lấp từ những năm 1960. Trong hang có một ngôi chùa thờ Phật, ngôi chùa được dựng lên khi nào chưa rõ, cửa chùa cũng là cửa hang chính của Thạch Động, phía trên có ghi ba chữ "Tiên Sơn Tự " với hai câu đối bằng chữ Hán: "Thạch thượng linh cơ lưu ngọc dịch; Động trung tĩnh địa ẩn kim tiên". Thạch Động còn có tên cổ là núi Vân Sơn, theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 05 quyển 26, mục Sơn Xuyên Chí có chép như sau: "Núi Vân Sơn ở huyện Hà Tiên, cách Địa Tạng khoảng một dặm, có núi cao chừng bốn trượng, bốn bên vách đứng như cái cột kình thiêng, núi có động rộng 4_5 trượng, trong có chùa Bạch Vân". Và mục Tự quán có chép: "Chùa Bạch Vân ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Tiên, trước do người Minh Hương là Đoàn Tân dựng, năm Thiệu Trị thứ 7 Tuần Phủ Phan Tùng bổ…". Đầu thế kỷ XX, có hai nhà sư từ miền Trung tới trụ trì ngôi chùa. Một vị là Nguyên thọ thượng chánh hạ quả, dòng tu Lâm Tế đời thứ 39, tục danh là Lê Thế Duyên, quê ở Phú Yên. Hòa thượng từ trần ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi. Một vị là Húy quảng sĩ thượng thiên hạ học, dòng tu Lâm Tế thứ 40, tục danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định. Thiền sư từ trần ngày 02 tháng 09 năm Aát Dậu (1945 ), thọ 75 tuổi. Sau khi hai nhà sư qua đời, đệ tử của sư Trịnh Tấn Phước là bà Cam Thị Nam (thường gọi cô Hai Nàm), kế thừa đạo nghiệp trụ trì ngôi chùa. Năm 1948, Bà bị thực dân Pháp bắt cùng với ba người nữa làm ruộng cho nhà chùa, chúng đêm cả bốn người về giam tại đồn Hà Tiên. Chúng bắt được quả tang bà Hai Nam tiếp tế và nuôi dấu cán bộ cách mạng. Ngay đêm bị bắt, giặc Pháp đã giết bà tại cầu tàu Hà Tiên. Người nữ tu hành này là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước. Trong hai cuộc kháng chiến và những năm tháng chiến tranh biên giới, nơi đây đã từng diễn ra những trận chiến ác liệt chống quân xâm lược, góp phần tô đậm truyền thống anh hùng của quân dân Hà Tiên. Hiện nay dưới chân Thạch Động có bia căm thù tưởng niệm 130 người đã bị bọn diệt chủng Pôn Pốt tàn sát vào ngày 14.03.1978 tại xã Mỹ Đức. Ra các cửa hang phía sau của Thạch Động, chúng ta sẽ được tận huởng những cơn gió mát lồng lộng, một không gian khoáng đãng, một vùng trời biên giới cùng với biển xanh, đảo nhỏ xa xa nhấp nhô. Không gian khoáng đãng, cảnh vật hữu tình, không khí tĩnh lặng cùng những pho tượng Phật uy nghiêm làm cho ta vơi bớt bụi trần trong giây lát, xua tan nỗi mệt nhọc sau những ngày lao động vất vả. Đến Hà Tiên, thăm Thạch Động với cảnh thiên nhiên thật thơ mộng và hùng vĩ, tạo cho ta cảm giác vô cùng thích thú. (còn tiếp) |
|
└(≣) QUÊ HƯƠNG - KIÊN GIANG cách đây 11 năm, 4 tháng #9766
|
THẬP CẢNH HÀ TIÊN - KIÊN GIANG (tt)
ĐÔNG HỒ ẤN NGUYỆT Đông Hồ là một đầm nước mặn, rộng khoảng 14 km2, nằm ở phía Đông thị xã Hà Tiên. Đông Hồ là một thắng cảnh thiên nhiên đẹp nổi tiếng của Hà Tiên đã đi vào thơ ca hàng trăm năm nay qua tác phẩm "Hà Tiên Thập Cảnh" của Mạc Thiên Tích với tên gọi "Đông Hồ Ấn Nguyệt ". Một hồ lẻo lẻo tiết thu quang. Giữa có vầng trăng nổi rõ ràng. Đáy nước chân mây in một sắc; Ả Hằng nàng Tố ló đôi phương. Rạng thanh đã hứng thuyền Tô tử Lạnh lẽo càng đau một kiến Nhạc xương Cảnh một mà tình người dễ một Kẻ thì ngả ngớn kẻ sầu thương. Ngọn Tô Châu bên dòng Đông Hồ. Đông Hồ là hồ ở phía Đông thành Hà Tiên, ấn nguyệt là trăng in. Thi nhân đã nhìn thấy bóng trăng in xuống mặt hồ y như cái ấn tròn đóng trên tờ giấy bạch. Và không phải bất kỳ lúc nào ta cũng được như thế mà đòi hỏi ta phải có lòng thành yêu cảnh, thăm tìm và chờ đợi. Vào đêm 16, 17 âm lịch, khoảng 07-08 giờ tối, ra bờ hồ, nhìn thẳng về hướng Đông mà đợi, đợi đến lúc trăng lên, chúng ta sẽ được nhìn chiếc ấn nguyệt in tròn vành vạnh trên mặt hồ. Vào những đêm trăng cảnh vật trên Đông Hồ rất đẹp, ánh trăng lung linh trên sóng nước mặt hồ mà ngày xưa Mạc Thiên Tích tưởng chừng tiên nữ lạc bước trần gian, đã làm nao lòng mạc khách đề thơ. Chúng ta có thể thả thuyền thưởng ngoạn trên Đông Hồ trong những đêm trăng cùng với bằng hữu, có nhạc, có thơ, có rượu, có những món ăn truyền thống của Hà Tiên, đắm mình trong không khí tao nhã như người xưa đã từng thưởng thức Đông Hồ, ta mới cảm nhận hết cái đẹp, cái thơ mộng của Đông Hồ. Đông Hồ chứa nước từ sông Giang Thành đổ vào và ăn thông ra biển để có hai mùa mặn ngọt, là nơi lý tưởng cho nhiều loại thủy cầm sinh sống. Những loài thủy cầm này đã góp phần nuôi sống con người Hà Tiên trong biết bao thế kỷ qua. Đông Hồ còn có hai ngọn núi Tô Châu ngày đêm soi bóng cùng với những thuyền chài, những ghe lưới, ... càng làm tăng vẽ thơ mộng và hữu tình của Đông Hồ. GIANG THÀNH DẠ CỔ Giang Thành là thành lũy đóng ở bên sông. Dạ là ban đêm. Cổ là tiếng trống. Giang Thành Dạ Cổ là tiếng trống cầm canh ở chỗ đồn thú bên bờ sông, về ban đêm. Trống quân giang thú nổi uy phong, Nghiêm giống đòi canh ỏi núi sông. Đánh phá mặt gian người biết tiếng; Vang truyền lịnh sấm chúng nghiêng lòng. Phao tuông đã thấy yên ba vạc; Nhiệm nhặt chi cho lọt mảy lông Thỏ lụn sớm hầu chờ bóng ác; Tiếng xe sầm sạt mới nên công. Một đoạn sông Giang Thành Sau khi tiếp nối cơ nghiệp của cha, Mạc Thiên Tích tăng cường việc xây dựng và bố phòng chung quanh Phương Thành. Do vị trí địa lý, việc thông tin từ vùng phía Bắc về Hà Tiên rất khó khăn (lúc này kinh Vĩnh Tế chưa được đào, chỉ có sông Giang Thành). Ông đã cho đắp một con đường nhỏ, chủ yếu dùng cho việc liên lạc hỏa tốc, đủ một người một ngựa, bắt đầu từ Đá Dựng chạy dài đến bờ Bắc sông Giang Thành với nhiều vọng gác. Tục truyền, cứ bắt đầu một hồi trống gác đánh từ Hà Tiên đến hồi trả lại là đúng một giờ. Đường này còn có tên là lộ sứ Tự Đức, đến nay hầu như không còn để lại dấu vết. Giang Thành ngày nay chỉ là một địa danh thuộc xã Tân Khánh Hòa, huyện Kiên Lương, cách thị xã Hà Tiên khoảng 10km, là chỗ ngã ba tiếp giáp kinh Vĩnh Tế từ Châu Đốc chảy sang, liền với thượng lưu con sông Giang Thành. Mà trước đây vào thời Minh Mạng, Giang Thành đã từng là một quận của tỉnh Hà Tiên. Sông Giang Thành bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia, xưa người Khmer gọi sông này là Prêk Ten, vì bên cạnh nó có một thôn ấp cổ tên là Tà Ten. Sông chảy vào Việt Nam theo hướng Bắc Nam, dài khoảng 23 km, nằm trên địa phận xã Tân Khánh Hòa, xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, rồi đổ vào vũng Đông Hồ ở thị xã Hà Tiên, trước khi ra vịnh Thái Lan. Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế, tạo thành tuyến đường thủy quan trọng từ thị xã Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên. Nó cũng góp phần đưa nước ngọt từ sông Hậu về tỉnh Kiên Giang phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau gọi là ngã ba Giang Thành; và đây chính là một thắng cảnh của trấn Hà Tiên xưa, mà Mạc Thiên Tứ đã chọn làm đầu đề. LƯ KHÊ NGƯ BẠC Lư Khê Ngự Bạc là cảnh thứ mười trong "Hà Tiên Thập Cảnh". Lư là loài cá Vược. Khê là khe, là rạch. Ngư là thuyền chài, người lưới cá, câu cá. Bạc là thuyền đỗ bến. Lư Khê Ngư Bạc là cảnh Rạch Vược, nơi thuyền ngư đỗ bến hay còn gọi là xóm chài Rạch Vược. Bến Vược nhà ngư chật mấy từng Trong nhàn riêng có việc lăng xăng. Lưới chài phơi trải đầy trời hạ, Gỏi rượu say sưa tọai nghiệp hằng, Nghề Thuấn hãy truyền bền trác trác, Dân Nghiêu còn thấy đủ răng răng. So đây mười cảnh thanh hòa lạ, Hòa cảnh Đào nguyên mới sánh chăng. Xóm làng chài Cách đây mấy thế kỷ, trong địa phận xã Thuận Yên, cách thị trấn Hà Tiên khoảng ba cây số có một con rạch nhỏ từ kinh Rạch Giá - Hà Tiên ăn thông ra biển, nơi đây loại cá vược tụ tập rất nhiều, len lỏi qua các khe núi Nhọn, núi Ông Đội và núi Nhỏ, tạo thành một cảnh sơn thủy kỳ thú. Mạc Thiên Tích đã cho dựng ở đây một ngôi "điếu đình" làm chỗ nhàn hạ buông câu, làm nơi tiêu dao ngoạn cảnh, nghỉ ngơi, di dưỡng tinh thần. Và nơi đây còn được gọi là Lư Khê Nhàn Điếu. Bây giờ con rạch Lư Khê không còn ăn thông ra biển và loài cá vược ở đây cũng không còn nhiều như xưa nữa. Vì từ khi Quốc lộ 80 được xây dựng thì con rạch đã bị lắp ngang. Dòng Lư Khê vẫn chảy êm đềm qua những khe núi để hòa vào Đông Hồ và cảnh vật ở Rạch Vược vẫn thanh bình, êm ả. BÌNH SAN ĐIỆP THÚY Bình San Điệp Thúy là cảnh đẹp thứ hai trong "Hà Tiên Thập Cảnh" của Mạc Thiên Tích. Bình San là dãy núi dựng như bức bình phong, ở sau thành Hà Tiên. Cũng như tiếng lan đào của Kim Dự, ngụ ý che đỡ kín đáo cho thành nội. Điệp là trùng trùng điệp điệp, lớp lớp từng từng. Thúy là màu xanh chim trả. Bình San Điệp Thúy là ngọn núi như tấm bình phong sắc xanh lớp lớp. Một bước càng thêm một thú yêu, Lằn cây vết đá vẽ hay thêu. Mây tùng khói liễu, chồng rồi chập; Đàn suối ca chim, thấp lại cao. Luật ngọc trâu ông chẳng phải trổi; Ngòi sương Ma cật đã thua nhiều. Đến đây mới biết lâm tuyền quý, Chẳng trách Sào Do lánh Đế Nghiêu. Dãy núi Bình San Quần thể núi Bình San có một vị trí khá đặc biệt. Ở đây, thi sĩ họ Mạc đã ví như "một bức tường thành che chắn mặt phía Tây thành Hà Tiên". Họ Mạc đã chọn khu vực này để xây lăng mộ của dòng họ và các tôi thần trung nghĩa. Và cũng chính điều này mà nhân dân còn gọi Bình San là núi Lăng. Trên núi thì có lăng tẩm của vị Khai Trấn Quốc Công Mạc Cửu, vị tướng kiêm nhà thơ Mạc Thiên Tích cùng lăng mộ con cháu dòng họ Mạc và lăng mộ các tướng sĩ đã theo giúp họ Mạc xây dựng và bảo vệ Hà Tiên. Còn dưới chân núi là đền thờ họ Mạc, hay còn gọi là Mạc Công Miếu với hai câu đối: "Nhất môn trung nghĩa gia thịnh trọng; Thất diệp phiên hàn quốc sủng vinh", như ghi lại công lao của họ Mạc đối với đất Hà Tiên. Trong miếu còn có bút tích của ông Nguyễn Thần Hiến là một nhà yêu nước tham gia hoạt động cách mạng chống Pháp trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, trên tường ghi lại những bài thơ chữ nôm do Mạc Thiên Tích sáng tác (qua nhiều lần trùng tu, bút tích này được phục chế khắc trên gỗ). Trước đền, hiện có ba ao trồng sen. Riêng ao bìa bên trái (từ cổng nhìn ra), xưa kia được gọi là "bán nguyệt liên trì" vì có dạng nửa hình tròn được đào từ thời Mạc Thiên Tích để lấy nước cho dân sử dụng. Trên Bình San còn hai di chỉ của nền Sơn Xuyên và nền Xã Tắc do Mạc Thiên Tích lập ra để hành lễ vào các ngày trọng đại. Nền Sơn Xuyên là chỗ tế thần núi thần sông, ở chỗ cao chót núi, chỗ nhìn ra Kim Dự. Nền Xã Tắc là chỗ tế hậu thổ thần nông, ở chỗ thấp giữa lưng núi, chỗ bây giờ đã có vườn tược trồng trọt. Đối với Nhà Nguyễn, thời Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, Hà Tiên được hưởng một chế độ cai trị đặc biệt, như một "tiểu quốc". Do đó, họ Mạc cho lập hai nơi này để tế cáo trời đất (giống như Vua_Chúa nhà Nguyễn). Từ năm 1708 đến năm 1770, Trấn Hà Tiên dưới thời Mạc Cửu và nhất là Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu), đã là một thương cảng sầm uất, mà sử thần nhà Nguyễn là Trịnh Hoài Đức viết "là một nơi đô hội ở miền biển". Tàu buôn các nước trong khu vực lui tới Hà Tiên khá tấp nập để trao đổi và mua bán nhiều sản vật quí hiếm đi nhiều nơi như Malaysia, Hải Nam,… Từ những năm cuối thế kỷ XVII trở về trước, cả một vùng đất rộng lớn từ Hà Tiên cho đến Cà Mau vẫn còn hoang vu, nhiều sơn lam, chướng khí và thú dữ. Tuy đã có một số ít lưu dân tứ xứ từ Trung Quốc, Cao Miên, người Kinh (Việt Nam),…đến tự khai khẩn và sinh sống, trong đó có lưu dân người Việt là chiếm đa số. Nhưng họ sống rãi rác nhiều nơi không tập hợp thành một cộng đồng quần cư. Vì thế, cho đến lúc đó, vùng này vẫn là nơi "vô quản". Mạc Cửu, sinh ngày 08 tháng 05 năm 1655, người xã Lê Quách_huyện Hải Khang_phủ Lôi Châu_tỉnh Quảng Đông_Trung Quốc, cùng một số người Hoa khác, vì không phục chính sách cai trị của nhà Thanh, đã dong buồm xuống phương nam vào cuối thế kỷ XVII. Sau nhiều lần bôn ba, phiêu bạt, đến năm 1708, ông đến vùng đất này (lúc bấy giờ có tên là Mang Khảm). Nhận thấy nơi đây cảnh trí thiên nhiên vô cùng thơ mộng, thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển sự nghiệp, ông đặt tên cho vùng đất này là Hà Tiên (sông Tiên). Và do hiểu được vị thế lúc bấy giờ của chúa Nguyễn, Mạc Cửu dâng biểu tâu xin và được chúa Nguyễn Phúc Chu phong làm Hà Tiên Trưởng, sau là Tổng Trấn Hà Tiên. Ông đã tổ chức lại xã hội, xây dựng thành quách, mở mang công cuộc làm ăn buôn bán, với nhiều nước lân cận, từ đó Hà Tiên ngày càng phồn thịnh. Mạc Cửu mất năm 1735, được chúa Nguyễn Phúc Chú truy tặng Khai Trấn Thượng Trụ Quốc Công, Đại Tướng Quân Vũ Nghị Công. Mùa xuân năm 1736, chúa Nguyễn Phúc Chú sắc phong cho Mạc Thiên Tích kế tập cha, thăng Đô Đốc Trấn Hà Tiên. Sau khi nhậm chức, Mạc Thiên Tích chăm lo mở mang phố xá ở trấn lỵ Hà Tiên, phát triển thêm việc buôn bán, đồng thời cũng cho sửa sang đồn lũy để ngăn giặc ngoại xâm. Nhờ đó, đất Hà Tiên "ngày càng phồn thịnh, nhân dân ở yên cày cấy, trồng trọt, phong vật phồn hoa, thuyền buôn đi lại tấp nập, cũng là một đất vui ở miền biển". Trong những lúc Mạc Công cùng tướng sĩ chiến đấu chống giặc bảo vệ thành Hà Tiên, Chánh phu nhân Mạc Thiên Tích là bà Nguyễn Thị Hiếu Túc đã lãnh đạo nhiều phụ nữ khác lo cơm nước tiếp tế kịp thời, đồng thời giữ vững an ninh trật tự trấn Phương Thành. Vì vậy, bà đã được Nhà Nguyễn phong tặng tước "Phu nhân". Trấn Hà Tiên dưới thời Mạc Thiên Tích và cho đến ngày nay, nổi tiếng cả nước với Hội Tao Đàn Chiệu Anh Các, một hiện tượng văn học sớm nhất của Miền Nam (Đàng Trong) vào thế kỷ XVIII do Mạc Thiên Tích làm chủ xướng. Ngày nay, xung quanh triền núi còn nhiều di tích mang đậm dấu ấn "Lịch sử_Văn hóa" như: Đền, chùa, lăng mộ, ao hồ,… Do đó, ngày 21/01/1989, Bộ Văn Hóa_Thông Tin đã có Quyết định số 100/QĐ_VH công nhận khu vực này là: "Di tích lịch sử_ văn hóa cấp quốc gia". Từ Lăng Mạc Cửu, ta có thể thấy cảnh nội ô thị xã Hà Tiên, Đông Hồ, cụm núi Tô Châu hùng vĩ, cầu Tô Châu, cửa biển Hà Tiên và mặt biển bên ngoài của tấm bình phong. Trời, mây, nước thu vào như một bức tranh phong cảnh thiên nhiên rất thơ mộng và đẹp mắt. Cũng từ Lăng Mạc Cửu, ta có thể đi vòng qua triền núi phía Tây để viếng mộ Mạc Mi Cô (Mạc Mi Cô là con gái của Mạc Thiên Tích_dân địa phương còn gọi là Bà Cô Năm ), do truyền tích linh thiêng nên từ lâu rất được nhiều người sùng bái. Và ta cũng có thể vòng qua triền núi phía Bắc để thăm ngôi "Phù Dung Cổ Tự", một trong những ngôi chùa cổ của Hà Tiên và có thể nói là của cả Kiên Giang, đặc biệt chỉ có chùa Phù Dung có điện thờ Ngọc Hoàng phía sau chùa. Ngôi chùa này được biết nhiều qua vở tuồng dã sử "Áo cưới trước cổng chùa" do thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà dàn dựng từ tiểu thuyết "Nàng Ái Cơ trong chậu úp" của nữ sĩ Mộng Tuyết được hư cấu từ hai nhân vật có thật là Tổng Binh Đại Đô Đốc Mạc Thiên Tích và người vợ thứ của ông là bà Nguyễn Thị Xuân, mà nhân dân địa phương kính trọng gọi là Bà Dì Tự. Hiện nay, núi Lăng thuộc địa phận phường Bình San, thị xã Hà Tiên. Đến Hà Tiên, lên núi Lăng để sống lại một chút với Hà Tiên thời mở đất.. CHÂU NHAM LẠC LỘ Đá Dựng cách trung tâm thị xã Hà Tiên khoảng 6km, cách Thạch Động về hướng Tây Bắc, từ quốc lộ 80 đi vào khoảng 1850m, chơ vơ giữa đồng có một dãy núi đá vôi, thường gọi là Đá Dựng. Đá Dựng có độ cao gần 100m, nhìn xa Đá Dựng như một hình thang cân. Gọi là núi Đá Dựng vì đá ở đây dựng đứng như vách. Đá Dựng có tên cổ là núi Bạch Tháp, theo sách “Gia Định Thành Thông Chí” do sử gia Triều Nguyễn là Trịnh Hoài Đức (viết xong năm Canh Thìn, 1820_đời Minh Mệnh) ở mục Sơn Xuyên Chí (chép về núi sông), về trấn Hà Tiên có ghi về núi Đá Dựng như sau: Bạch Tháp ở phía Bắc núi Vân Sơn (tức Thạch Động) năm dặm, sông núi quanh co, cỏ cây rậm rạp, nhà sư Quy Nhơn là Hòa Thượng Hoàng Long Đại vân du, cắm gậy ở đây. Năm Đinh Tỵ (1737), Túc Tông Hiếu Minh Hoàng Đế thứ 13, Hòa Thượng tịch, đồ đệ xây tháp bảy cấp để cất xá lợi. Hàng năm cứ đến ngày Tam nguyên và Phật đản thì chim hạc đến múa vượn xanh dâng quả, lưu luyến bồi hồi như có ý tham thiền nghe kệ, có thể gọi là cảnh chùa tiêu sái. Còn trong Hà Tiên thập cảnh, Đá Dựng với tên gọi là Châu Nham Lạc Lộ (Cò về núi ngọc). Đặt là châu nham vì núi Đá Dựng có loại thạch nhủ tinh quang lấp lánh như kim cương, có nhiều màu sắc đẹp như châu ngọc. Nham là núi đá cao, có nhiều hang hốc. Lạc là rơi rụng. Nói về vật nhẹ từ trên cao rơi xuống, như lá cây rụng, như đám mây bay thấp xuống. Lộ là loài chim phần nhiều loại lông trắng, loại thủy cầm sinh sống ở chỗ đầm, ao vũng vực, ăn cá ăn tôm. Châu Nham Lạc Lộ là cảnh đàn cò trắng bay về dãy núi Châu Nham. Châu Nham là dãy núi đá vôi có nhiều hang động, xa xa chung quanh có đầm nước. Loại chim cò sáng đi ăn ở các đầm vũng, ở bãi biển mé gành, buổi tối bay về nghỉ cánh ẩn vào hang đá, trốn mưa, trốn nắng, trốn người săn bắt. Biết chỗ mà nương ấy mới khôn, Bay về đầm cũ mấy mươi muôn Đã giăng chữ nhất dài trăm trượng, Lại sắp bàn vây trắng mấy non. Ngày giữa ba xuân ngân phấn vẽ; Đêm trường chín hạ tuyết sương còn. Quen cây chim thể người quen chúa, Dễ đổi nghìn cân một tấc son. Núi Đá Dựng Hiện nay, trong các hang hốc của Đá Dựng, có nhiều vỏ hào, vỏ ốc còn dính lại trên vách đá, chứng tỏ xưa kia nơi đây là đầm nước. Ao đầm vũng vực, chính là nơi thích nghi cho loại chim, loại cò, loại le le, vịt nước sinh hoạt. Cứ như thơ văn sách vỡ cũ xét thấy thì dãy Đá Dựng này xưa kia là một sân chim như các sân chim ở Rạch Giá, Cà Mau. Các sách chữ Hán viết là Điểu Đình. Do quá trình thay đổi về địa chất và địa hình qua hàng nghìn năm đã tạo nên núi Đá Dựng ngày nay. Trong thập cảnh Hà Tiên, núi Đá Dựng có tên gọi là Châu Nham Lạc Lộ có nghĩa là “cò về núi Ngọc”. Gọi là Châu Nham (núi Ngọc) vì trong núi có các loại thạch nhũ tinh quang lấp lánh như kim cương với nhiều màu sắc đẹp tựa châu ngọc. Cách thị xã Hà Tiên 6 km và Thạch Động 2 km về hướng Tây Bắc, núi Đá Dựng có hình thang cân, cao khoảng 100 m thư một bình phong thép của mảnh đất địa đầu Tây Nam Tổ quốc. Gọi là Đá Dựng có lẽ do vách đá dựng đứng, bên trong có nhiều ngõ ngách, hang động. Mỗi hang gắn liền với một truyền thuyết, một sự tích vừa thật vừa ảo. Đường lên núi dài 1.049 m được chia làm hai tuyến. Tuyến 1 (đi lên) dài 772 m gồm 10 hang chính thư hang Mẹ Sanh, hang Dơi, hang Cội Hàng Da, hang Trống Ngực (đấm ngực âm thanh vang như trống), hang Khổ Qua, hang Bồng Lai... Ngồi ở hang Kim Quy (có khối đá giống hệt con rùa) nhìn qua Campuchia ngút ngàn đồng ruộng và cây thốt nốt, gió thổi mát hơn cả máy lạnh. Tuyến 2 (đi xuống) dài 377 m, có 4 hang chính như hang Chỉ Huy, hang Biệt động... Từ hang Chỉ Huy tha hồ ngắm toàn cảnh Hà Tiên. Gặp bữa đẹp trời, dùng ống dòm có thể thấy cả Châu Đốc và Phú Quốc. Trong hang có nhiều khối thạch nhũ giống cá đối, rồng bay, cá voi, gấu, sư tử, chó... Vách hang còn dấu vết các loại vỏ hàu, vỏ sò như cố chứng minh nguồn gốc xa xưa vốn là nơi đầm lầy nước lợ. Hàng triệu năm trước núi Đá Dựng có lẽ là hòn đảo nhỏ giữa một sân chim ven biển. Chẳng thế mà sách cổ còn gọi núi Đá Dựng là Điểu Đình. Đá Dựng là một điểm tham quan độc đáo bởi thạch nhủ trong các hang của Đá Dựng có những hình thù khác nhau: thạch nhủ có hình như trái khổ qua, khối đá xanh hình con rùa, phiến đá như chiếc đĩa bay, đá trên vách hang nhô ra như đầu con bò, đầu con khủng long, vách đá nghiêng nhìn như chiếc áo cà sa lung linh ánh chớp,… Đá Dựng, một di tích lịch sử, một nơi tham quan du lịch hấp dẫn. Đến Đá Dựng như trở về cội nguồn lịch sử , cũng như khám phá vẻ đẹp kỳ bí của các hang động. Thanh Thảo(St) CA,30.11.13 |
|
└(≣) QUÊ HƯƠNG - KIÊN GIANG cách đây 11 năm, 4 tháng #9790
|
BÀI HÁT HÀ TIÊN
Bài hát HÀ TIÊN có nhạc và lời nghe tha thiết ,đầy yêu thương và dạt dào tình yêu quê hương đất nước.Nó đã đi vào tâm hồn tôi từ lâu lắm rồi ,và cứ mỗi lần cô ấy hát là cả hội trường hay cả lớp im lặng để thưởng thức giọng ca rất ngọt .Một bài hát duy nhất mỗi khi bạn hát...nhưng nghe thật là tuyệt với chất gịong tha thiết và trầm ấm...Cả lớp ai cũng thích nghe cô hát ,ngay chính tôi khi cô cất tiếng ca đã làm tôi phải đưa hồn vào bài hát ...tha thiết , đầy yêu thương và lưu luyến... Nhà cô bạn ở gần trước cổng trường cấp III - Tân Hiệp . Cô học chung khóa với tôi nhưng khác khoa - đó là lớp Hóa - Sinh Kỷ niệm xưa đã ùa về khi tôi sưu tầm bài viết về Hà Tiên ! Mặc dù đã sống ở Rạch Gía khá lâu .Nhưng tôi chưa một lần được bước tới bến xe Rạch Gía để đi Hà Tiên Xin hẹn sẽ có một ngày tôi được ngao du chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên quê tôi . Thanh Thảo xin mời tất cả các Thầy Cô và các bạn nghe lại bài hát HÀ TIÊN . Hà Tiên - Nhạc Sĩ Lê Dinh (Lê Minh Bằng)- Ca Sĩ Thanh Tuyền Tôi nhớ hoài một chiều dừng chân ghé qua thăm miền ước mơ Hà Tiên mến yêu đẹp như xứ thơ xa cách tôi còn nhớ Nhớ ghi muôn đời nước trời biển mơ xanh xanh màu ánh mắt em gái chiều năm xưa như vấn vương ai trên bến chiều xa vắng năm tháng còn ngẩn ngơ Hà Tiên ơi, đây miền xinh tươi như hoa gấm trong đời Hà Tiên ơi, đây những bóng dừa xanh mát biển khơi Tôi qua lăng Mạc Cửu, nằm trên con voi cùn Tôi vô thăm Thạch Động, trời bát ngát mênh mông Nghe chuông ngân chiều vắng như tiếng nói cô miên xao xuyến tâm tư người ghé thăm Hà Tiên Giây phút đẹp còn lại kỷ niệm khó phai trên bờ mắt ai Hà Tiên đã ghi vào tâm trí tôi ôi luyến lưu làng mây Nhớ thương với đầy hướng về Hà Tiên Quê hương hùng vĩ hiên ngang ngắm mặt trùng dương Đây bến Tô Châu khôn sánh niềm lưu luyến tôi hướng về Hà Tiên Hà Tiên ơi, đây miền xinh tươi như hoa gấm trong đời Hà Tiên ơi, đây những bóng dừa xanh mát biển khơi Tôi qua lăng Mạc Cửu, nằm trên con voi cùn Tôi vô thăm Thạch Động, trời bát ngát mênh mông Nghe chuông ngân chiều vắng, như tiếng nói cô miên xao xuyến tâm tư người ghé thăm Hà Tiên Giây phút đẹp còn lại kỷ niệm khó phai trên bờ mắt ai Hà Tiên đã ghi vào tâm trí tôi ơi luyến lưu làn mây Nhớ thương với đầy hướng về Hà Tiên Quê hương hùng vĩ hiên ngang ngắm mặt trùng dương Đây bến Tô Châu khôn sánh niềm lưu luyến tôi hướng về Hà Tiên... TT,04.12.13 |
|
└(≣) QUÊ HƯƠNG - KIÊN GIANG cách đây 11 năm, 3 tháng #9871
|
VỀ MIỀN TÂY ĂN CÁ LÓC NƯỚNG RƠM
Cá lóc vừa bắt dưới sông lên, rửa sạch, được xuyên bằng một que dài từ miệng đến đuôi, cắm que xuống đất lấy rơm phủ lên và đốt lửa cho đến khi tro tàn. Cá lóc (miền Bắc gọi là cá quả, cá chuối) nướng trui là một món ăn dân dã đặc trưng cho miền đồng nước miền Tây Nam Bộ Việt Nam, với hương vị độc đáo và cách chế biến rất đơn giản. Món ăn này gắn liền với quá trình khai hóa đất phương Nam của dân tộc Việt. Đặc điểm của món cá lóc nướng trui dân dã là cá không cần sơ chế, nghĩa là không đánh vảy, không cạo nhớt, không mổ bụng, không tẩm ướp gia vị. Cá lóc vừa bắt dưới sông lên, rửa sạch, được xuyên bằng một que dài từ miệng đến đuôi, sau vùi cá vào đống rơm khô rồi châm lửa đốt hoặc cắm que xuống đất lấy rơm phủ lên và đốt lửa cho đến khi tro tàn. Khi cá chín, cạo bỏ lớp vẩy đã cháy xém để lộ ra thịt cá trắng và thơm. Cá nướng xong chỉ cần gỡ thịt chấm muối ớt, mà phải là loại muối hột mới cảm nhận được hết mùi vị thơm ngon vùa cay vừa mặn vừa ngọt vừa thơm của món cá lóc nướng đặc sản của dân Nam Bộ. Ở đồng bằng sông Cửu Long, cá lóc nướng trui thường ăn với nước mắm me. Sau đó, cá được phủ rơm lên để chuẩn bị nướng. Chúng ta đã có một dĩa cá nướng rơm trông rất hấp dẫn và ngon tuyệt . TT(St) 12.12.13 |
|
Copyright© 2012
Thời gian tải trang: 0.18 giây